Nê-hê-mi 7:6-65
6
Này là các người tỉnh Giu-đa từ nơi làm phu tù được trở lên, tức những kẻ thuộc trong bọn bị Nê-bu-ca-nết-sa bắt dẫn từ; chúng trở lại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, ai nấy đều về bổn thành mình;
7
chúng trở về với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Bê-hum, và Ba-a-na. Nầy là số tu bộ những người nam của dân Y-sơ-ra-ên;
8
Về con cháu Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người;
9
về con cháu Sê-pha-tia, ba trăm bảy mươi hai người.
10
Về con cháu A-ra, sáu trăm năm mươi hai người.
11
Về co cháu Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai ngàn tám trăm mười tám người.
12
Về co cháu Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
13
Về con cháu Xát-tu, tám trăm bốn mươi lăm người.
14
Về con cháu Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.
15
Về con cháu Bin-nui, sáu trăm bốn mươi tám người.
16
Về con cháu Bê-bai, sáu trăm hai mươi tám người.
17
Về con cháu A-gát, hai ngàn ba trăm hai mươi hai người.
18
Về con cháu A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi bảy người.
19
Về con cháu Biết-vai, hai ngàn sáu mươi bảy người.
20
Về con cháu A-đin, sáu trăm năm mươi lăm người.
21
Con cháu A-te, về dòng dõi Ê-xê-chia, có chín mươi tám người.
22
Về con cháu Ha-sum, ba trăm hai mươi tám người.
23
Về con cháu Bết-sai, ba trăm hai mươi bốn người.
24
Về con cháu Ha-ríp, một trăm mười hai người.
25
Về con cháu Ga-ba-ôn, chín mươi lăm người.
26
Về những người Bết-lê-hem và Nê-tô-pha, một trăm tám mươi tám người.
27
Về những người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám người.
28
Về những người Bết-a-ma-vết, bốn mươi hai người.
29
Về những người Ki-ri-át-Giê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.
30
Về những người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người.
31
Về những người Mích-ma, một trăm hai mươi hai người,
32
Về những người Bê-tên và A-hi, một trăm hai mươi ba người.
33
Về những người Nê-bô khác, năm mươi hai người.
34
Về con cháu Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
35
Về con cháu Ha-rim, ba trăm hai mươi người.
36
Về con cháu Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.
37
Về con cháu của Lô-đơ, của Ha-sít, và của Ô-nô, bảy trăm hai mươi mốt người.
38
Về con cháu Sê-na, ba ngàn chín trăm ba mươi người.
39
Những thầy tế lễ: Về con cháu Giê-đa-gia, nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.
40
Về con cháu Y-mê, một ngàn năm mươi hai người.
41
Về con cháu Pha-ru-sơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.
42
Về con cháu Ha-rim, một ngàn mười bảy người.
43
Người Lê-vi: Con cháu của Giê-sua và của Cát-mi-ên, về dòng dõi Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.
44
Người ca hát: Về con cháu A-sáp, một trăm bốn mươi tám người.
45
Kẻ giữ cửa: Về con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-la, và con cháu Sô-bai, một trăm ba mươi tám người.
46
Người Nê-thi-nim: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
47
con cháu Kê-rốt, con cháu Sia, con cháu Pha-đôn,
48
con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai,
49
con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha;
50
con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa,
51
con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a,
52
con cháu Bê-sai, con cháu Mê -u-nim, con cháu Nê-phi-sê-nim,
53
con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
54
con cháu Bát-tít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
55
con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
56
con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
57
Dòng dõi các đầy tớ của Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa,
58
con cháu Gia-a-la, con cháu Ðạt-côn, con cháu Ghi-đên,
59
con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kế-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-mon.
60
Tổng cộng các người Nê-thi-nim và con cháu các đầy tớ của Sa-lô-môn, là ba trăm chín mươi hai người.
61
Nầy là những người ở Tên-Mê-la, Tên-Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn, và từ Y-mê mà đi lên; nhưng chúng nó không thể chỉ ra nhà của tổ phụ mình và gốc gác của họ, hoặc thuộc về Y-sơ-ra-ên hay chăng:
62
con cháu Ðê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, và con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm bốn mươi hai người.
63
Về những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai, là người lấy vợ trong vòng con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át, và được gọi bằng tên của họ.
64
Các người ấy tìm kiếm gia phổ mình, nhưng không thấy, bèn bị trừ ra chức tế lễ, kể cho là ô uế.
65
Quan tổng trấn cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng có một thầy tế lễ dấy lên dùng U-rim và Thu-nim mà cầu hỏi Ðức Chúa Trời.
Settings